Tập 2 – Tâm Lý Học Linh Hồn – Chìa Khóa Để Thăng Thiên – Chương 5 – Tâm Lý Học Linh Hồn So Với Tâm Lý Học Truyền Thống

, , Leave a comment

Chương 5 -Tâm Lý Học Linh Hồn So Với Tâm Lý Học Truyền Thống

Vật chất là phương tiện cho sự biểu hiện của linh hồn trên cảnh giới này, cũng như trên cảnh giới cao hơn linh hồn phục vụ như một phương tiện biểu hiện của tinh thần.

Djwhal Khul, qua dẫn kênh của Alice A. Bailey

Tôi đã trải qua khóa đào tạo tâm lý học truyền thống trong khi đang đắm mình trong nghiên cứu tâm linh của mình. Cả cha mẹ, mẹ kế và chị gái tôi đều theo học ngành tâm lý. Tôi đã lớn lên cùng nó và đã sống, hít thở cùng với nó, kiếm sống với nó, và được bao quanh bởi nó suốt cuộc đời. Do đó, tôi có rất nhiều ý kiến ​​rất mạnh mẽ về toàn bộ lĩnh vực này.

Mặc dù tôi là người thực hành tâm lý học linh hồn, hay còn gọi với tên khác như tâm lý học tâm linh hoặc tâm lý học transpersonal, tôi vẫn rất tôn trọng tâm lý học truyền thống. Tôi đã học được rất nhiều điều trong chương trình đào tạo tâm lý học truyền thống của mình và rất vui vì tôi có được nền tảng mà nó cung cấp. Vấn đề là lĩnh vực tâm lý học truyền thống rất hạn chế. Theo cách tôi nhìn nó, như một đồ thị nằm ngang đi từ 1 đến 100. Mức số 0 có thể được coi là mức thấp nhất của ý thức và 100 là mức của một bậc thầy đã thăng thiên. Tâm lý học truyền thống có thể đưa bạn lên cấp 30; tuy nhiên, nó sẽ không bao giờ đưa bạn đi xa hơn được nữa, ngay cả khi bạn học 5 phiên một tuần trong 50 năm tới. Lý do cho điều này là tâm lý học truyền thống 98% không có tâm linh.

Khi tôi học qua các chương trình cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, cách tâm lý học được dạy là họ trình bày cho bạn hàng trăm lý thuyết tâm lý học khác nhau mà hoàn toàn không có hướng dẫn về lý thuyết nào đúng và lý thuyết nào sai. Đó là bởi vì không ai trong những người dạy biết được điều đó. Mọi giáo sư đều có những ưa thích của họ. Công việc của bạn khi còn là sinh viên là phát triển một số hiểu biết về tất cả chúng và độc lập chọn lấy cái mà bạn thích nhất. Đó là cách bạn kết thúc việc thực hành trị liệu.

Vấn đề nằm ở chỗ không có cái nào là thực sự đúng. Tất cả chúng chỉ là những mảnh ghép nhỏ của sự thật. Có thể nếu bạn đặt tất cả chúng lại với nhau, bạn sẽ có một nửa sự thật. Vấn đề phức tạp ở chỗ mỗi nhà lý thuyết nghĩ rằng họ có toàn bộ sự thật.

Trong cuốn sách đầu tiên của mình, tôi đã nói về ba cấp độ của việc tự chứng. Đó là ba cấp độ của phàm ngã, cấp độ linh hồn, và cấp độ chân thần. Tâm lý học truyền thống, ở vào mức tốt nhất của nó (và thậm chí điều này còn gây tranh cãi) sẽ giúp bạn đạt được sự tự chứng ở cấp độ phàm ngã. Tâm lý học truyền thống không thể giúp bạn đạt được tự chứng ở cấp độ linh hồn hay chân thần bởi vì nó thậm chí còn không nhận ra sự tồn tại của linh hồn và chân thần.

Trong số hàng trăm lý thuyết khác nhau mà tôi đã học ở trường, tôi chỉ có thể nghĩ ra ba lý thuyết có khuynh hướng tâm linh. Ba lý thuyết đó là lý thuyết của Carl Jung, Abraham Maslow và Robert Assagioli. Tôi sẽ bắt đầu với cái cuối cùng trước.

Robert Assagioli là một nhà tâm lý học người Ý, người đã phát triển khả năng tổng hợp tâm lý. Đây là một trong số ít hình thức tâm lý học truyền thống mà tôi nghĩ là thực sự đáng để nghiên cứu, tuy nhiên ông ấy chưa bao giờ được nhắc đến trong tất cả các cuốn sách mà tôi học trong suốt quá trình đào tạo của mình. Về cơ bản ông ấy không được nhắc tới trong lĩnh vực tâm lý học truyền thông ở bậc đại học và sau đại học, mà chỉ được ở các trường có tâm lý học transpersonal.

Abraham Maslow, mặc dù đề cập đến giá trị của đời sống tâm linh, nhưng lại viết rất ít về chủ đề này. Ông nổi tiếng với việc nghiên cứu những người khỏe mạnh thay vì những người ốm yếu – và đó là một bước đột phá lớn trong lĩnh vực này.

Carl Jung là nhà tâm lý học truyền thống nổi tiếng duy nhất tích hợp khía cạnh tâm linh. Ông ấy thực sự là một chất xúc tác tuyệt vời trong lĩnh vực này. Ông ấy nhận ra lý tưởng của bản thân, và ông ấy thoát khỏi định kiến của Freud về tình dục. Ông ấy là một bậc thầy của những giấc mơ và tin vào sự luân hồi, mặc dù ông không thực sự muốn mọi người biết tới sự thật này.

Tôi rất tôn trọng công việc của ông ấy và khuyên bạn nên đọc nó. Vấn đề là mặc dù Jung là một chất xúc tác tuyệt vời cho lĩnh vực này, nhưng công việc của ông ấy cũng khá hạn chế khi bạn so sánh nó với sự hiểu biết đầy đủ hơn về tâm lý học tâm linh mà chúng ta biết ngày nay.

Một trong những điều cơ bản của tâm lý học linh hồn là có hai cách suy nghĩ trên thế giới. Bạn có thể suy nghĩ từ tâm trí bản ngã tiêu cực của mình hoặc bạn có thể suy nghĩ từ tâm trí linh hồn hoặc tâm linh của mình. Tâm lý học truyền thống cố gắng chữa lành trong mạng lưới của bản ngã tiêu cực. Tuy nhiên, sự chữa lành thực sự không thể xảy ra trừ khi bản ngã tiêu cực được chuyển hóa hoàn toàn. Như đức Sai Baba đã nói : “Thượng đế bằng con người trừ bản ngã.”

Các lý thuyết của tâm lý học truyền thống hoàn toàn không có trong nó ý tưởng rằng tư tưởng tạo ra thực tại. Họ không thấy rằng có hai cách giải thích thực tại hoàn toàn trái ngược nhau. Theo định đề đó, tâm lý học truyền thông không thể thấy được vì không có sự tích hợp của khía cạnh linh hồn. Vì vậy, tâm lý học truyền thống nhìn cuộc sống thông qua một bộ kính được đeo bởi bản ngã tiêu cực.

Tâm lý học truyền thống có thể giúp bạn nhìn rõ hơn qua những chiếc kính đó; tuy nhiên, bạn sẽ không bao giờ thực sự có thể nhìn thấy trừ khi bạn tháo chiếc kính đó ra và đeo vào chiếc kính ý thức Christ của bạn. Bản ngã tiêu cực đã thâm nhập vào mọi khía cạnh của xã hội – tôn giáo, y học cổ truyền, hệ thống nhà tù, và tất cả các thể chế trên hành tinh – bao gồm cả tâm lý học.

Bây giờ ở đây là vấn lớn mà chúng ta đang gặp phải. Có hàng chục nghìn người tốt nghiệp đại học và đi làm việc, có bằng cấp và giấy phép, họ những người không đủ tiêu chuẩn để làm công việc trị liệu hoặc giảng dạy tâm lý học trong các trường học của chúng ta. Phần lớn, họ thậm chí còn chưa bước vào con đường khai tâm, và bạn không thể thực sự hiểu tâm lý học trừ khi bạn đã tích hợp linh hồn.

Tâm lý học truyền thống tin rằng những cảm xúc tiêu cực là điều khó tránh khỏi và là một phần bình thường của cuộc sống. Nó dạy cho mọi người ý thức nạn nhân. Nó không hiểu gì về luân xa, linh hồn, tâm linh, bản ngã tiêu cực, trực giác, tâm trí cao hơn, tâm trí trừu tượng, hay mục đích thực sự của cuộc sống. Phần lớn, nó không hiểu được cách thức hoạt động thực sự của tiềm thức hay cách lập trình lại nó.

Tôi không nói rằng tâm lý học truyền thống không có giá trị. Nó có một số giá trị ban đầu. Nếu nó có thể dẫn một người đến việc tự chứng ngộ ở cấp độ phàm ngã thì đó là một điều tuyệt vời và không có gì phải nói. Vấn đề là rất ít hình thức tâm lý học truyền thống có thể đưa tới điểm này.

Vấn đề thực sự nảy sinh vì nhiều người tìm kiếm sự giúp đỡ nhưng lại đang bị mắc kẹt trong tâm lý học truyền thống nhiều năm. Họ không thể vì vấn đề cần được trợ giúp không có ở trong lý thuyết mà họ đang làm việc hay trong ý thức của nhà trị liệu tâm lý để có thể đưa họ vượt thoát ra khỏi vấn đề. Làm thế nào một nhà trị liệu có thể dẫn một người đến giác ngộ và tự chứng khi mà họ còn chưa đạt được cuộc điểm đạo đầu tiên.

Vấn đề với một người bình thường là không có nhiều người cố vấn tâm linh ở xung quanh họ. Người trung bình thường có xu hướng tôn giáo và họ sẽ tới nhà thờ, đền thờ của họ để nhận được sự tư vấn. Điều đó có lẽ thậm chí còn tồi tệ hơn so với cố vấn truyền thống, vì tôn giáo truyền thống chứa đầy sự ô nhiễm của bản ngã tiêu cực cũng như lĩnh vực tâm lý học.

Sự thật của vấn đề là chúng ta cần nhiều cố vấn tâm linh Thời đại Mới hơn. Rất nhiều trong số họ không được cấp phép bởi vì họ chưa trải qua hình thức học truyền thống. Người bình thường thấy điều này là không thể chấp nhận được và trên thực tế, họ thường được khuyến cáo khi đến với những nhà trị liệu như vậy. Tuy nhiên, tôi nghĩ họ, phần lớn, có trình độ tư vấn tốt hơn các nhà tâm lý học chuyên nghiệp truyền thống mà không có mối quen hệ với linh hồn. Điều này hoàn toàn đi ngược lại quan điểm của những người duy vật trung bình, những người không thể tưởng tượng được một khả năng như vậy.

Có rất ít người không bị choáng ngợp và bối rối bởi tất cả các lý thuyết tâm lý học được ném vào họ. Tôi sẽ lướt qua một số vấn đề chính và so sánh chúng với tâm lý học linh hồn.

Tóm lại, không có gì sai khi đến với một nhà trị liệu truyền thống trong một thời gian. Nó có thể có giá trị lớn trong việc kiểm soát tính cách của bạn, nếu bạn tìm được nhà trị liệu phù hợp. Nhưng đến một lúc nào đó, bạn cần phải vượt thoát ra ngoài và tìm một vị thầy tâm linh để đưa bạn đi hết chặng đường còn lại, nếu không bạn sẽ không bao giờ vượt qua được 30 phần trăm đó.

Tâm lý học truyền thống, một cách lý tưởng, có thể được xem như một chiếc bánh, mỗi dạng của tâm lý học là một miếng bánh mang một số phần nhỏ của sự thật. Tôi khuyên bạn nên trung dung và tích hợp tất cả chúng. Thêm vào đó là tâm lý học linh hồn, chiếm 70% còn lại, và sau đó bạn sẽ hiểu chân thực hơn về cái mà Djwhal Khul gọi là tâm lý học bí truyền.

Đây là tương lai thực sự của tâm lý học. Tâm lý học hiện nay đang được thực hành, vẫn còn trong giai đoạn sơ khai, hay có thể gọi là thời kỳ đen tối. Hai mươi đến ba mươi năm nữa sẽ có một cuộc cách mạng hoàn toàn trong lĩnh vực này.

Không chỉ trong lĩnh vực tâm lý học truyền thống, nơi mà linh hồn không được tích hợp vào nghiên cứu ở bậc đại học và sau đại học, điều tương tự cũng xảy ra trong mọi hình thức giáo dục, chính trị, xã hội học, thể thao, và trong mọi khía cạnh của xã hội. Nhân loại đã tìm cách tạo ra một thế giới ngăn cách với các thực tại tâm linh của sự sống và tách chúng ra khỏi thế giới hàng ngày. Một ví dụ điển hình về điều này là chủ nghĩa Cộng sản. Đó là một lý thuyết chính trị không có Thượng Đế; đó là lý do tại sao nó phải thất bại.

Sự thật thì hệ thống chính trị của chúng ta chỉ tốt hơn một chút. Các chính trị gia nói về Thượng Đế; tuy nhiên, chính trị lại hoàn toàn được điều hành bởi bản ngã tiêu cực. Hãy nhìn vào tình trạng tham nhũng, vận động tranh cử tiêu cực, hối lộ được hợp pháp hóa, sự lưỡng đảng toàn diện và đầy đủ của các thành viên của các đảng Dân chủ và Cộng hòa. Đức Chúa Trời của họ là những gì phù hợp với đảng phái, không phải là những gì phù hợp với thế giới và mọi người.

Việc thiếu vắng sự liên quan với linh hồn trong lĩnh vực tâm lý học không phải là duy nhất. Không có một lĩnh vực nghiên cứu hoặc một cơ sở giáo dục nào trên hành tinh này không thực hiện theo cách y như trên, kể cả tôn giáo. Vương quốc của loài người đã tự tách mình ra khỏi vương quốc của Thượng Đế. Sẽ không bao giờ có bất kỳ cảm giác hạnh phúc, hòa bình nội tâm, giác ngộ hay hiểu biết thực sự nào cho đến khi hai vương quốc này hợp nhất.

Chương này là một nỗ lực để kết hợp tâm lý học của vương quốc Thượng Đế với tâm lý học của loài người. Khi đạt được điều này, mọi người có thể tự chữa lành hoàn toàn trong vài tháng, thay vì nhiều năm như tâm lý học truyền thống yêu cầu.

Hạn Chế Của Các Hình Thức Trị Liệu Truyền Thống

Hầu hết người đọc cuốn sách này đều khá chuyên sâu, vì vậy tôi không cần phải đi sâu vào từng hình thức trị liệu truyền thống và giải thích vị trí của nó. Những gì tôi sẽ làm ở đây là đi sâu vào các hình thức trị liệu khác nhau với cái mà tôi gọi là “thanh kiếm của sự phân biện, nhận thức thấu rõ”, từ quan điểm của linh hồn và cố gắng làm sáng tỏ những điểm mạnh và hạn chế của mỗi phương pháp. Tôi sẽ cố gắng đi đúng vào cốt lõi của việc giảng dạy thiết yếu và không lãng phí thời gian với những thông tin không cần thiết.

Tâm Thần Học

Chúng ta hãy bắt đầu thảo luận với các phương thức trị liệu khác nhau đang có hiện nay và đối chiếu chúng với tâm lý học linh hồn. Tâm thần là một cơn ác mộng. Tôi ghét phải nói thẳng thừng và không có ý chỉ trích; tuy nhiên, nếu tôi đang sử dụng thanh gươm của trí phân biện, tôi phải nói sự thật.

Bác sĩ tâm thần là một bác sĩ y khoa và trên thực tế họ được đào tạo rất ít về tâm lý học. Hình thức trị liệu thông thường của bác sĩ tâm thần là Valium: “Hãy lấy hai trong số những thứ này và gặp tôi ba lần một tuần với giá 200 đô la một buổi”. Bác sĩ tâm thần bình thường sẽ được đào tạo về liệu pháp Freudian, và mất đến 3 đến 5 buổi một tuần trong 20 năm tiếp theo. Nghe có vẻ như thể tôi đang hài hước, và tôi là vậy, nhưng có rất nhiều sự thật với những gì tôi đang nói.

Hình thức trị liệu duy nhất mà tồi tệ hơn nữa là khi khi các bác sĩ bắt được một người nào đó và cho anh ta liệu pháp sốc điện để giúp anh ta thoát khỏi chứng trầm cảm. Theo cách nói của vũ trụ thì hành động này là man rợ, và nó vẫn đang được thực hiện, hỡi các bạn của tôi.

Trong khu điều trị tâm thần thông thường, có những bệnh nhân nghiện ngập ma túy đến mức phải mất nhiều năm chỉ để làm sạch cơ thể họ, chứ chưa nói đến tâm trí của họ. Việc chăm sóc với họ là tốt nhất là trông coi. Nhiều bệnh nhân trong số này đang có những trải nghiệm tâm linh thực sự nhưng các bác sĩ giải thích là ảo giác. Sự thật thì chính các bác sĩ đang bị ảo giác, trong khi các bệnh nhân thường hòa hợp vào những thực tại tâm linh thực sự. Việc chăm sóc người bệnh tâm thần trong xã hội của chúng ta hiện nay là một việc làm sai trái. Ý thức y học không rõ ràng đến nỗi các bác sĩ thực sự nghĩ rằng họ sẽ chữa lành tâm trí, tâm thần và linh hồn bằng một loại thuốc. Họ không có khái niệm về thực tại bên trong của sự sống.

Chủ Nghĩa Hành Vi

Chủ nghĩa hành vi là hình thức trị liệu tồi tệ thứ hai. Nó thể hiện sự tôn thờ hoàn toàn của khoa học vật chất. Nó coi con người không hơn gì những con chuột thí nghiệm. Không có cái gọi là tự do lựa chọn. Nó nói rằng bạn hoàn toàn được định hình bởi môi trường của bạn. Sự củng cố tích cực và tiêu cực chi phối tất cả. Trong tất cả các khía cạnh của chiếc bánh, chủ nghĩa hành vi chỉ mang lại hương vị mờ nhạt nhất về chân lý.

Đúng là môi trường ảnh hưởng đến con người, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình tiến hóa. Không nhìn thấy bất kỳ khía cạnh nào của thực tại bên trong và nói rằng con người không khác gì vương quốc động vật là điều rất đáng lo ngại. Tôi rất tiếc phải nói rằng, đây là hình thức tâm lý học chính trong tất cả các trường học ở Hoa Kỳ.

Chỉ có ở các khoa lâm sàng, nơi những người giải quyết công việc tư vấn mới thoát được ra khỏi khuôn khổ này. Tất cả các bộ phận nghiên cứu được quản lý bởi chủ nghĩa hành vi. Nhà tâm lý học đã phát minh ra nó, B. F. Skinner, thực sự đã giữ đứa con của mình trong một chiếc hộp và cố gắng nuôi dạy nó như vậy. Bạn có thể tưởng tượng!

Tâm Lý Học Nhân Văn – Humanistic Psychology

Tôi đoán bằng trực giác rằng 70% các bác sĩ đang thực hành hình thức trị liệu này. Tâm lý nhân văn là sự “tôn thờ” các cảm xúc. Bạn tìm đến liệu pháp để “thoát ra khỏi cảm xúc của mình”. Bạn lấy dùi cui ra và đập vỡ chiếc gối tượng trưng cho vợ / chồng hoặc cha mẹ, bày tỏ sự tức giận của bạn và khóc một cách ngon lành.

Nhà trị liệu rất tự hào về bạn vì đã bộc lộ cảm xúc của mình! Từ khóa là “thuốc xổ” hay để cảm xúc dâng trào. Nhưng điều đáng kinh ngạc về hình thức trị liệu này là bạn cảm thấy tốt hơn khi rời khỏi buổi tập, đó là sự thật. Vấn đề duy nhất là bạn không hiểu rằng chính suy nghĩ của bạn đã tạo ra thực tại của bạn, tâm trí của bạn sẽ xây dựng lại tất cả vào ngày hôm sau. Đó là một loại lý thuyết tâm lý nữ tính khiến bạn trở thành nạn nhân của tiềm thức và cơ thể cảm xúc. Tôi đang nói từ kinh nghiệm của bản thân về điều này.

Không có gì sai khi sử dụng “thuốc xổ”, và tôi là người đầu tiên thừa nhận giá trị của một quá trình như vậy. Tuy nhiên, bạn không thể dựa trên toàn bộ liệu pháp của mình, như Tâm lý học Nhân văn. Bạn cũng cần được đào tạo về cách suy nghĩ của bạn đang tạo ra cảm giác và cảm xúc của mình và phải có sự tích hợp của khía cạnh tâm linh của sự sống.

Một ví dụ điển hình về loại liệu pháp này, đó là có một khách hàng cũ của tôi đã đem nó về thực hành ở bên ngoài sau khóa trị liệu. Tôi đã gặp cô ấy trong khoảng sáu tháng và khi cô ấy “tốt nghiệp”, cô ấy đã làm rất tốt và cảm thấy rất tốt. Điều này tiếp tục trong khoảng một năm, cho đến một ngày tôi nhận được một cuộc điện thoại khẩn cấp từ cô ấy. Cô ấy đang ở trong một hoàn cảnh khủng khiếp. Cô ấy đến gặp tôi ngay và tôi hỏi có chuyện gì vậy. Cô ấy nói với tôi rằng cô ấy đã làm rất tốt trong năm qua, cho đến khoảng một tuần trước đó khi một người bạn hỏi cô ấy có muốn đến một cuộc hội thảo gọi là “cuối tuần thịnh nộ”. Cô quyết định đi và nghĩ rằng vào cuối tuần là mọi người sẽ được trải qua một thể hiện cảm xúc tự do và bộc lộ cơn thịnh nộ.

Mọi người đã chửi bởi và nguyền rủa như một cơn bão và cuối cùng đến lượt khách hàng của tôi. “Vấn đề” là cô ấy không cảm thấy tức giận hay thịnh nộ; cô ấy cảm thấy rất vui vẻ và bình yên. Tôi đã huấn luyện cô ấy sở hữu sức mạnh của bản thân và làm chủ thực tại của chính mình. Tôi đã huấn luyện cô ấy về khoa học chữa lành thái độ và nhìn cuộc sống từ ý thức Christ của cô ấy hơn là từ ý thức bản ngã tiêu cực của cô ấy. Không bị bản ngã của mình điều hành, cô ấy không có nhiều tức giận. Cô ấy rất vui và bình an tâm trí. Những người trong nhóm nghĩ rằng điều này là không thể, vì vậy họ liên tục tấn công cô ấy cho đến khi cô ấy suy sụp và bắt đầu khóc. Họ không bỏ cuộc cho đến khi cô ấy nổi giận.

Vào lúc cô ấy đến với tôi, cô ấy rất rối loạn. Tôi giải thích cho cô ấy những gì đã xảy ra và tại sao nó lại xảy ra, và tôi cũng giải thích với cô ấy rằng cô ấy phải sử dụng trí phân biện nhiều hơn để lựa chọn loại hội thảo mà cô ấy tham dự trong tương lai, dựa trên định hướng tâm linh của cô ấy. Cô ấy nhanh chóng nhận được bài học và chúng tôi đã sửa chữa thiếu sót giúp cô ấy tốt hơn bao giờ hết, và trí tuệ hơn một chút.

Các cuộc gặp gỡ theo nhóm của những năm sáu mươi, vẫn đang diễn ra, cũng là một sản phẩm của loại tâm lý này. Ý tưởng ở đây là chia sẻ cảm xúc của bạn bằng bất cứ giá nào. Không quan trọng nếu bạn đang yêu hoặc nếu bạn đang tấn công hoặc làm tổn thương ai đó. Miễn là bạn đang thoát ra khỏi cảm xúc của mình, mọi thứ đều tuyệt vời. Nó chắc chắn là một hình thức trị liệu của người Atlantis (dựa trên cảm xúc). Nó có thể tốt trong một thời gian ngắn đối với những người bị kiểm soát và phân cực trong cơ thể trí, với đúng người hoặc nhóm phù hợp. Nếu không, giá trị của nó là khá hạn chế.

Tâm lý học nhận thức – Cognitive Psychology

Nếu Tâm lý học Nhân văn là của người Atlantis, thì Tâm lý học Nhận thức dựa trên giống dân gốc Aryan vì sự tương thích về mặt tâm trí của nó. Tâm lý học nhận thức đặc biệt ở chỗ nó là hình thức duy nhất của tâm lý học truyền thống dạy rằng chính suy nghĩ của bạn tạo ra thực tại của bạn. Có rất nhiều ý tưởng và công cụ rất tốt trong hình thức trị liệu này, và nó chắc chắn mang lại một số kết quả. Hạn chế là linh hồn bị thiếu khỏi hệ thống này; và nó cũng không nói tới nguyên nhân của các cảm xúc là bởi suy nghĩ. Nó nói rằng bạn gây ra thực tại của mình nhưng nó không đi đến điểm để cho bạn thấy rằng bạn không phải trải qua các cảm xúc tiêu cực nếu bạn không lựa chọn như vậy.

Hình thức tâm lý này chắc chắn là một bước đi đúng hướng. Nó có thể đặc biệt tốt cho những người quá phân cực về cảm xúc và cần phát triển trí năng. Tuy nhiên, tôi sẽ không chọn bất kỳ hình thức tư vấn truyền thống nào thay vì một cố vấn tâm linh có hiểu biết tốt về toàn thể.

Tôi đưa ra những khuyến nghị này bởi vì có những người không muốn gặp một nhà tư vấn tâm linh, vì họ chưa ở cấp độ tiến hóa đó trong cuộc sống, vì vậy muốn gặp một người chỉ làm việc trên cấp độ phàm ngã chứ không phải cấp độ tâm linh.

Với một người tâm linh nhưng đang cảm thấy bị tổn thương bởi cảm xúc, đọc một số cuốn sách về Tâm lý học nhận thức có thể rất thích hợp. Thật không may, đây là một hệ thống không thường được giảng dạy trong các trường cao đẳng và đại học truyền thống.

Tâm lý học Freud

Tâm lý học Freud ngày càng ít được chú ý hơn khi thời gian trôi qua, mặc dù trước đây nó rất quan trọng. Rất nhiều bác sĩ tâm thần dường như bị thu hút bởi nó. Sigmund Freud chắc chắn có vị trí của mình trong lịch sử, và ông đã đưa ra một số khái niệm quan trọng; tuy nhiên, ông ấy đã rất cứng nhắc ở mức luân xa thứ hai.

Các lý thuyết của ông hoàn toàn bị tách rời khỏi tâm linh. Theo tôi, một người đến gặp một nhà phân tích theo trường phái Freud sẽ trở nên rất rối bời. Một sự phụ thuộc chặt chẽ được tạo ra giữa nhà trị liệu và bệnh nhân và nhà trị liệu sẽ đặt tất cả triết lý Freud của mình vào thực tại của bệnh nhân. Nếu anh ta không vướng vào các vấn đề tình dục và các vấn đề với cha mẹ bên nội và bên ngoại của mình, anh ta sẽ mắc phải chúng vào sau thời điểm kết thúc khóa trị liệu, và anh ta cũng sẽ có ít tiền hơn trong tài khoản ngân hàng của mình.

Tâm lý học Freud không phải là vô giá trị, nhưng theo tôi, nó có thể đưa một người chỉ từ cấp 1 đến cấp 10 trên thang điểm từ 1 đến 100. Nếu một người đi 5 lần một tuần trong 50 năm, anh ta sẽ không bao giờ vượt qua được cấp 10 vì lý thuyết này không thể đưa anh ta đi xa hơn.

Liệu Pháp Jungian

Liệu pháp Jungian được bắt đầu bởi nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ, Carl Gustav Jung. Ông là người cùng thời với Freud và là học trò của anh ấy một thời gian nhưng ông đã tách ra vì Freud coi tình dục là nguyên nhân của mọi thứ.

Trong số tất cả các hình thức tâm lý học truyền thống, tôi sẽ cho hình thức này điểm cao nhất. Nó có thể đưa bạn lên cao hơn mức 30% mà tôi đã nói trước đó vì nó dựa trên tâm linh. Jung có một sự hiểu biết mơ hồ về Cái Tôi vĩnh cửu, mặc dù không hiểu biết đầy đủ như một số người như Djwhal Khul. Nhưng Jung đã ở trong sân bóng.

Ông ấy có một sự hiểu biết tuyệt vời về những giấc mơ. Ông ấy đặt niềm tin vào luân hồi trong cuốn tự truyện của mình, mặc dù ông ấy không quảng bá điều này. Ông ấy tin tưởng mạnh mẽ vào Thượng Đế, điều này thật là một sự tươi mới so với những kiến thức tôi được học trong liệu pháp truyền thống ở trường.

Cách tốt nhất để mô tả đóng góp của ông, đó là nói rằng ông ấy là một chất xúc tác tuyệt vời cho lĩnh vực này. Những người đam mê tâm lý học Jung rất dễ bị mắc kẹt trong nó, nó hoạt động hơi giống như một giáo phái, tôi khá chắc chắn về điều này. Tâm lý học Jung có thể bị chết yểu với ý tưởng này. Tôi nói từ kinh nghiệm bởi vì cha mẹ tôi là nhà trị liệu theo trường phái Jung và tôi đã thấy những gì họ phải trải qua khi đối phó với Hội Jung ở Los Angeles.

Tất cả chúng ta đều biết điều gì sẽ xảy ra khi mọi người thành lập tổ chức xung quanh một bộ giáo lý nhất định. Đây không phải là một lời chỉ trích Jung, mà là một bài bình luận về những gì đã xảy ra với những lời dạy của anh ấy. Điều này xảy ra với tất cả các vị thầy tâm linh, bao gồm cả Chúa Jesus và Đức Phật.

Hạn chế của tâm lý học Jung là mặc dù nó đang đi đúng hướng và có định hướng tâm linh ở trong đó, nhưng nó không hoàn chỉnh. Ví dụ, nó không có sự hiểu biết về sự khác biệt giữa tư duy bản ngã tiêu cực và tư duy tâm linh. Trên thực tế, có một quan niệm sai lầm khi cho rằng phải sở hữu cái bóng của mình. Nhiều người bị mắc vào lời dạy sai lầm này.

Nếu Đức Chúa Trời đã tạo ra bạn, thì bạn được tạo ra theo hình ảnh của Ngài là Ánh sáng và tình yêu. Nếu bạn có sự tiêu cực, hoặc bóng tối, điều đó đến từ việc lạm dụng quyền tự do lựa chọn hoặc từ suy nghĩ với tâm trí bản ngã thay vì với tâm trí Christ. Lý tưởng là không sở hữu cái bóng, hay bản ngã tiêu cực của bạn, mà là để nó chết đi. Như Sai Baba nói, Thượng đế bằng con người trừ bản ngã.

Bạn trải qua sự tiêu cực bởi vì bạn suy nghĩ tiêu cực. Nếu bạn suy nghĩ với tâm trí Christ, bạn sẽ trải nghiệm niềm vui, hạnh phúc, tình yêu vô điều kiện và sự bình an nội tâm. Khi bạn cảm thấy tiêu cực, bạn luôn có thể truy ngược lại để biết rằng suy nghĩ tiêu cực xuất phát từ bản ngã tiêu cực của bạn. Nếu bạn chết vì bản ngã tiêu cực của mình, thì cái chết này sẽ tạo ra thực tại tiêu cực cho chính bạn.

Những hạn chế khác của tâm lý học Jung là nó không dạy cách thực hiện lời khẳng định, hình dung hoặc cách lập trình lại tiềm thức. Tại đó không dạy cách làm việc với đứa trẻ bên trong và không tập trung vào cầu nguyện hoặc thiền định. Jung không dạy về tình yêu thương vô điều kiện. Bạn sẽ không nhận ra Thượng Đế nếu bạn không nhận ra tình yêu thương vô điều kiện. Một lần nữa, tôi không có ý chỉ trích Jung, vì tôi dành sự tôn trọng cao nhất cho những đóng góp của ông ấy cho lĩnh vực này. Nếu một người chỉ dừng lại ở việc tập trung vào tâm lý Jung thì sẽ có sự tiến bộ nhưng sẽ không đi hết con đường. Tôi thấy nhiều người bị mắc kẹt trong các trường học dạy giáo trình của Jung và tự giới hạn bản thân họ. Tôi muốn giới thiệu cho các bạn đọc sách của ông ấy. Tôi thậm chí còn ủng hộ việc tham gia liệu pháp Jung miễn là bạn cũng nghiên cứu và làm việc với các lý thuyết và thực hành khác.

Nếu bạn so sánh những lời dạy của Jung với những lời dạy của Paramahansa Yogananda, Sai Baba hoặc Djwhal Khul, bạn có thể thấy chúng không cùng đẳng cấp. Jung không phải là một bậc thầy tâm linh đã đạt được giác ngộ, tự ý thức. Nếu mục tiêu của bạn là tự ý thức hay giác ngộ và thăng thiên, thì bạn phải có một người thầy đã đạt được cấp độ như vậy. Điều tôi đang nói là bạn có thể tích hợp Jung vào hiểu biết một cách trung dung của bạn, nhưng bạn không nên hoàn toàn đồng nhất với ông ấy.

Tôi thấy rất nhiều người đã hoàn toàn đồng nhất, bị hòa tan với ông ấy và theo tôi, họ đang tự kìm chế mình. Ở mặt khác của đồng xu, đây có thể là những gì họ cần trong một khoảng thời gian tại thời điểm này trong quá trình tiến hóa của họ để đưa họ đến bước tiếp theo. Tôi chỉ gợi ý rằng khi họ đạt đến điểm đó trong sự hiểu biết của mình, họ sẽ nhận ra và thực hiện những bước tiếp theo, vì nó sẽ dẫn đến điều mà Jung không thể dạy – là trạng thái hạnh phúc, vui vẻ không ngừng, kiện tình yêu vô điều, sự giác ngộ và sự thăng thiên.

Tâm Lý Học Gestalt

Gestalt là một trường phái tâm lý học truyền thống khác khá thú vị. Tôi nói điều này từ kinh nghiệm cá nhân bởi vì tôi đã điều trị bằng liệu pháp Gestalt trong một số năm khi tôi còn trẻ. Fritz Perls, người sáng lập, khá năng động và nhiều bộ óc xuất chúng đã xây dựng dựa trên lý thuyết của ông. Đó là một loại tâm lý nữ tính hơn đối lập với một loại nam tính như tâm lý học Nhận thức. Tâm lý học Gestalt thấy không có cấu trúc vốn có trong tâm trí. Liệu pháp Gestalt phụ thuộc rất nhiều vào việc trải nghiệm mọi thứ trước khi tương tác với tâm trí. Nó có xu hướng hơi chống lại tâm trí.

Trường phái tư tưởng này có lẽ là một phản ứng dữ dội cần thiết chống lại sự chú trọng quá mức vào tâm trí trong một số lý thuyết khác. Điều yêu thích của tôi về tâm lý học Gestalt là những gì Fritz Perls đã nói: “Khi cái thượng đẳng hoặc cái hạ đẳng xuất hiện trong tâm trí của bạn, hãy cười với chúng và ra khỏi sân khấu”. Đây là một tuyên bố khá sâu sắc, ý của ông ấy muốn nói ở đây là về việc vượt qua bản ngã tiêu cực, từ trước tới nay chưa có hình thức tâm lý học truyền thống nào giải quyết điều đó.

Liệu pháp Gestalt sử dụng phương pháp nhập vai như một công cụ rất hiệu quả. Khi giải quyết một giấc mơ, thay vì nói về nó, bạn được yêu cầu hành động nó. Tôi đã từng có một giấc mơ về con nhện đen tarantula và tôi thấy rằng mình đã mắc sai lầm khi nói với bác sĩ liệu pháp Gestalt của tôi. Anh ta bắt tôi leo quanh văn phòng của anh ta như một con nhện!

Tôi đang cảm thấy buồn cười ngay lúc này, nhưng sự thật, tôi đã nhận được rất nhiều điều từ liệu pháp Gestalt so với các hình thức khác mà tôi đã thử. Nó chắc chắn là một phương pháp học tốt cho những người rất trí óc và cứng nhắc.

Những hạn chế cũng khá rõ ràng. Theo quan điểm của tôi, nó quá nữ tính trong cách tiếp cận và cần phải tìm ra sự cân bằng giữa nam / nữ. Một ví dụ về điều này là thái độ chống đối với tâm trí của nó hoàn toàn không cho thấy được một cấu trúc nào đối với tinh thần. Nó đã đi đến một thái cực ngược lại so với của các liệu pháp khác. Có thể đó là một động tác lắc lư thích hợp, nhưng cuối cùng để đạt được khả năng tự nhận thức, bạn cần đạt được sự cân bằng hoàn toàn. Tâm lý học Gestalt cũng không tích hợp khía cạnh tâm linh của cái tôi.

Mọi người nói rằng Perls khá tầm thường và thậm chí là tồi tệ. Ông ấy nhất định không tin vào tình yêu vô điều kiện, có thể vì nó đã quá chật chội với lý thuyết của ông ấy. Perls đã đóng góp rất nhiều và nếu loại liệu pháp này được sử dụng một cách khoa học với những điều chỉnh cần thiết để tìm ra sự hoàn thiện bản thân ở cấp độ phàm ngã, nó có thể có giá trị rất lớn.

Tất cả các liệu pháp khác nhau này đều dẫn đến việc tự hoàn thiện bản thân ở cấp độ phàm ngã. Điều thiếu sót mà tôi muốn nói ở những phương pháp này đó là chúng không dẫn đến quá trình tự hoàn thiện bản thân ở cấp độ linh hồn và sau đó là sự hoàn thiện bản thân ở cấp độ tâm linh.

Carl Rogers

Carl Rogers được coi là một trong những nhà tâm lý học Nhân văn vĩ đại. Hình thức trị liệu của ông được gọi là liệu pháp lấy khách hàng làm trung tâm; nó là rất phi định hướng. Ông tin rằng khách hàng có tất cả các câu trả lời và người ta chỉ cần dành cho khách hàng sự quan tâm tích cực vô điều kiện và thực hành “lắng nghe tích cực”.

Tôi thích ý tưởng của ông ấy về sự quan tâm tích cực vô điều kiện. Về cơ bản, ông đã thực hành và giảng dạy tình yêu thương vô điều kiện và ông nên được khen ngợi, vì đó là một bước đột phá lớn trong lĩnh vực tâm lý học.

Ý tưởng của ông ấy rằng khách hàng đã có tất cả các câu trả lời và việc ông ấy để khách hàng điều hành các phiên trị liệu, theo tôi là một sai lầm nghiêm trọng. Thực tế là hầu hết khách hàng hoàn toàn bị điều hành bởi cơ thể cảm xúc, cái tôi tiêu cực và tâm trí tiềm thức của họ. Tôi tin rằng nhà trị liệu là một giáo viên, và có những kiến thức mà người tham gia trị liệu phải học hỏi để áp dụng vào cuộc sống của họ.

Việc thực hành lắng nghe tích cực của Rogers có nghĩa là ông ấy sẽ lặp lại bất cứ điều gì khách hàng nói. Nếu anh ta nói, “Tôi bực bội với vợ tôi,” thì Rogers sẽ nói, “Vì vậy, bạn đang tức giận với vợ của bạn.” Sẽ không tệ nếu anh ấy làm điều này vài lần trong một buổi, nhưng các nhà trị liệu được dạy làm điều này liên tục, điều này sẽ khiến tôi phát điên lên được.

Loại liệu pháp giống như con lắc dao động về phía bên này đối cực với loại liệu pháp khác mà nhà trị liệu nói quá nhiều, đưa ra quá nhiều lời khuyên và không được lắng nghe đầy đủ. Theo tôi, lý thuyết ban đầu của Rogers đã đi quá xa đến một thái cực khác. Một điều thú vị mà nhiều người không biết tới đó là trong những năm sau đó, Rogers chuyển sang tâm lý học Transpersonal, chính là tên gọi theo truyền thống của tâm lý học tâm linh.

Alfred Adler

Tâm lý học Adlerian được thực hành bởi những người tự coi mình là nhà tâm lý học xã hội. Adler có một số ý tưởng hay. Ông xem mục đích của cuộc sống là phấn đấu hướng tới sự làm chủ và hoàn thiện, điều này là đúng đắn. Ông cũng thấy mục đích của cuộc sống là chuyển từ quan điểm coi bản thân là trung tâm sang quan điểm là thành phần hữu ích hơn cho xã hội. Ông ấy cảm thấy một cách mạnh mẽ rằng bạn cần phải sở hữu quyền lực của mình và thoát ra khỏi mặc cảm tự ti và sự ưu việt.

Adler rõ ràng đã thoát ra khỏi hệ thống suy nghĩ bản ngã tiêu cực mà cốt lõi là tính ích kỷ và sự tách biệt. Tôi khen ngợi ông ấy vì điều này. Vấn đề duy nhất là ông ấy đã không đi đủ xa. Theo một cách hiểu toàn diện về tinh linh, mục đích của cuộc sống là chuyển từ quan điểm coi trọng bản thân sang quan điểm lấy linh hồn làm trung tâm, chứ không chỉ là quan điểm xã hội. Đây là điểm mà lý thuyết này vẫn ở trên bình diện nhân văn và không đưa tới cấp độ linh hồn.

Tâm lý học Adlerian không mấy khi được dạy trong trường học, và điều này thật không may, vì anh ấy có rất nhiều ý tưởng hay. Tất cả những nhà lý thuyết giỏi dường như không được dạy trong trường học. Theo ước tính của tôi, trường học truyền thống chiếm 90% tâm lý học hành vi và nhân văn – mặc dù trong thời gian gần đây, điều này có thể đang thay đổi.

Tâm Lý Học Hệ Thống Gia Đình

Hệ thống gia đình là một loại hình tâm lý học mà nhiều nhà tư vấn hôn nhân, gia đình và trẻ em được đào tạo. Đây là một lý thuyết thú vị khi cho rằng gia đình được xem như thể nó là một nhân cách hoạt động bên trong và của chính nó. Bất kỳ sự thay đổi hành vi nào của một thành viên trong gia đình đều gây ra tác động xấu trong toàn bộ hệ thống gia đình.

Thay vì làm việc với tâm lý cá nhân của mỗi cá nhân, một nhà trị liệu theo hệ thống gia đình tìm cách điều chỉnh hệ thống gia đình nói chung. Ví dụ: nếu một đứa trẻ đang gặp vấn đề, nhà trị liệu này thậm chí có thể sẽ không giải quyết vấn đề của riêng đứa trẻ mà sẽ điều chỉnh trong mối quan hệ hôn nhân của cha mẹ. Sự điều chỉnh này sau đó có thể chữa lành cho đứa trẻ.

Có một số giá trị trong phương pháp này. Vấn đề là nó đã đi quá xa đến một thái cực khác, trong việc không làm việc đủ với tâm lý cá nhân của những người có liên quan.

Mỗi lý thuyết mang lại một phần sự thật từ toàn bộ chiếc bánh, nhưng mỗi lý thuyết lại đi quá xa theo hướng cực đoan này sang cực đoan khác. Đề xuất của tôi là bạn ở trung tâm của miếng bánh và không đi đến bất kỳ thái cực nào, bạn tích hợp tất cả các quan điểm khác nhau. Sau đó, bạn có một sự hiểu biết cân bằng hơn.

Phân Tích Giao Dịch  – Transactional Analysis

Phân tích giao dịch được phát triển bởi Eric Berne, M.D. Nó phân chia tính cách thành cha mẹ, người lớn và trẻ em. Đây là một mô hình rất đơn giản, nhưng nếu bạn mới bắt đầu trên con đường tự hoàn thiện ở cấp độ phàm ngã nó có thể là một mô hình rất hữu ích để bắt đầu tích hợp phàm ngã. Tôi thích mô hình này hơn là mô hình của Freud, cái tôi và siêu cái tôi, nó là một sự hiểu biết rõ ràng hơn nhiều.

Thuyết Sai Toàn Diện

Lý thuyết Toàn diện Sai của tâm lý học là một lý thuyết mà chính tôi đã đặt tên. Tôi nghĩ rằng hầu hết mọi người đều không biết vì họ bị cuốn vào nó hoặc bởi vì họ có một đống lý thuyết không được tích hợp trong đầu. Lý thuyết Sai toàn diện, như tôi định nghĩa, là niềm tin rằng bạn cần cân bằng các khía cạnh sáng và tối của bản thân.

Nhiều người trong số các bạn có thể gật đầu nói: “Điều này nghe có vẻ ổn. Tôi nghĩ chúng tôi phải làm điều đó ”. Tôi ở đây để nói rằng bạn không ở đây để làm điều đó. Vâng, bạn ở đây để cân bằng giữa phần nữ tính và nam tính của chính mình. Vâng, bạn ở đây để cân bằng các khía cạnh Thiên đàng và Trần thế trong bản thân bạn. Bạn cũng ở đây để cân bằng các luân xa và bốn cơ thể cũng như tất cả các khía cạnh khác của bản thân. Và chắc chắn bạn cũng cần cân bằng và tích hợp giữa bản ngã và tâm linh.

Nhưng có một điều mà bạn không ở đây để cân bằng, và đây là điểm mấu chốt mà ít người trên thế giới này hiểu được: Bạn không ở đây để cân bằng ý thức bản ngã tiêu cực và ý thức Christ. Bạn ở đây để thoát khỏi và để bản ngã tiêu cực chết đi. Đó là lý do tại sao Sai Baba nói “Thượng đế bằng con người trừ đi bản ngã”. Đây cũng là tinh chất của Một Khóa Học Diệu Kỳ, những giáo lý của Đức Phật, và trên thực tế là tất cả những lời dạy của tất cả những bậc thầy đã đạt chứng ngộ.

Những người bị cuốn vào thuyết Sai toàn diện lầm nghĩ rằng họ phải cân bằng mọi thứ và nếu họ loại bỏ bất cứ điều gì, nó sẽ quay lại và cắn họ ở một mức độ nào đó. Đây không phải là sự thật. Hãy nhớ rằng, chính những suy nghĩ của bạn tạo ra thực tại của bạn, và bản ngã tiêu cực, về bản chất, là nỗi sợ hãi, sự ích kỷ và sự tách biệt.

Bạn không ở đây để cân bằng giữa sợ hãi và tình yêu. Không phải Kinh Thánh nói, “Tình yêu thương trọn vẹn xua tan nỗi sợ hãi”. Bạn không ở đây để cân bằng giữa sự tách biệt và sự hợp nhất. Bạn ở đây để sống trong sự nhất thể. Bạn không ở đây để cân bằng cảm giác tự ti với lòng tự trọng cao. Sự tiêu cực của bản ngã đã tạo ra sự hận thù, trả thù, ghen tị, thiếu giá trị bản thân, kiêu ngạo, trầm cảm và thiếu lòng tự trọng. Thượng Đế đã tạo ra bạn, và danh tính thực sự của bạn là Chân Thần, Cái Tôi Vĩnh Cửu, Cái Tôi Hiện Diện. Như kinh thánh có nói: “Các ngươi là những vị thần và lại không biết điều đó – Ye are gods and know it not”.

Thượng Đế có trải qua sự thù hận, trả thù, ghen tị, thiếu giá trị bản thân, kiêu ngạo hay trầm cảm không? Dĩ nhiên là không. Những đức tính này đến từ đâu nếu Thượng Đế tạo ra bạn? Chúng đến từ những suy nghĩ sai lầm của nhân loại. Chúng đến từ suy nghĩ dựa trên sự tách biệt, sợ hãi thay vì tâm trí dựa trên tình yêu thương của đấng Christ. Như Kinh thánh có nói, “Hãy để tâm trí này ở bên trong bạn, tâm trí mà đã ở trong Chúa Jesus Christ”.

Để nhận ra ý thức ý thức Christ, bạn phải thoát khỏi ý thức bản ngã tiêu cực. Như Một Khóa Học Diệu Kỳ nói, “Không có suy nghĩ trung lập.” Suy nghĩ của bạn là theo bản ngã hoặc là theo tâm linh, hoặc là sự kết hợp của cả hai. Rõ ràng là lý tưởng là để tư tưởng bạn thuộc về tâm linh.

Khi bạn đạt được trạng thái suy nghĩ này, bạn luôn yêu đời, vui vẻ, hạnh phúc, tâm trí cân bằng và bình an. Không phải chính Đức Phật đã nói, “Tất cả đau khổ đều đến từ những chấp trước, dính mắc của bạn”. Thượng Đế không đau khổ, vậy tại sao bạn phải chịu đựng nếu như bạn được tạo ra trong trí tưởng tượng và giống Ngài? Bạn ở đây để trở thành Ánh sáng, để trở thành tình yêu, để chứng ngộ Thượng Đế.

Như đức Sai Baba nói, bạn sẽ không đạt được chứng ngộ Thượng Đế trừ khi bạn để cho bản ngã của mình chết đi, nó vốn là sự sợ hãi, tách biệt và ích kỷ. Khi bạn để cách suy nghĩ của cái tôi thấp hơn chết đi và bạn được tái sinh theo cách suy nghĩ của cái tôi cao hơn, thì khi đó bạn sẽ nhận ra Thượng Đế.

Đây là chương trình giảng dạy chính của con đường tâm linh, bất kể bạn chọn theo con đường cụ thể nào hoặc giáo viên nào. Trái ngược với những điều mà một số người nói, bạn không cần cảm xúc tiêu cực. Chúng được tạo ra bởi tâm trí. Chúng không đến từ bên ngoài bạn hay từ bản năng của bạn. Chúng đến từ cách diễn giải, nhận thức và hệ thống niềm tin của bạn về thực tại.

Mỗi người trong số các bạn đang xem bộ phim của riêng mình. Chẳng phải Đức Phật đã nói, trong tứ diệu đế, rằng tất cả đau khổ đều xuất phát từ “quan điểm sai lầm”. Bạn phải suy nghĩ với tâm trí Thượng Đế của bạn là Ánh Sáng. Đó là lý do tại sao nó được gọi là Sự Khai Sáng – En-light-enment. Nó không được gọi là Sự Khai Tối – En-dark-enment. Chúng ta không ở đây để cân bằng hạnh phúc và đau khổ. Chúng ta ở đây để sống trong hạnh phúc và Ánh sáng mọi lúc. Điều này chính là đạt được sự làm chủ với cái mà Djwhal Khul gọi là “Người đứng trên ngưỡng cửa”, chính là làm chủ được ảo cảm, ảo ảnh, ảo tưởng và bản ngã tiêu cực.

Tôi hy vọng tôi đã cung cấp một cái nhìn thoáng qua về tương lai. Tâm lý học Transpersonal là làn sóng mới. Trong những năm tới nó sẽ cách mạng hóa hoàn toàn lĩnh vực tâm lý học.

…Hết chương 5.

 

Leave a Reply