ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG SÁM HỐI DIỆT TỘI THÀNH PHẬT KINH CHI QUY NHIẾP LƯỢC QUỸ

, , Leave a comment

Không có mô tả ảnh.
Đảnh lễ, cúng dường, quy y xuất hữu hoại, Như Lai, Đại A La Hán, chánh đẳng giác giả, chư quá khứ Phật, vị lai Phật cập hiện tại trụ thế giả chư Thánh tôn, tinh chư Bồ-đề tát-đỏa. Chư Thanh Duyên giả chúng. Đảnh lễ chư Tháp cập chư xá-lợi, chư nhục thân xá-lợi. Kỳ thỉnh gia trì.
Đảnh lễ, cúng dường, quy y đại tổng trì cập thập nhị bộ Kinh. Đảnh lễ Khế Kinh bộ, đảnh lễ Thọ ký bộ, đảnh lễ Phúng tụng bộ, đảnh lễ Ứng tụng bộ, đảnh lễ Tự thuyết bộ, đảnh lễ Duyên khởi bộ, đảnh lễ Thí dụ bộ, đảnh lễ Bổn sự bộ, đảnh lễ Bổn sanh bộ, đảnh lễ Phương quảng bộ, đảnh lễ Hi pháp bộ, đảnh lễ Luận nghị bộ, đảnh lễ chư Đại thừa tàng. Kỳ thỉnh gia trì.
Na Ma Bố Đạt Nha, Na Ma Đạt Nhi Mã Nha, Na Mê Tùng Cát Nha, A Đan Đức Đáp Nhật A Ni. Đại Đích Nha Tha. A Ca Hạ Ni Ba Bác Ni. Tát Nhi Ngõa Đạt Nhật Mã Ni Oa Ni. Ngã Hạ Ma Ân Đáp. Bác Ba Hạ Na. Bác Mã Lạp Sắc Ba Nhật. Đạt Nhi Mã Ni Ca Na. Ba Nhật A Nhật Ni Táp Nha Đáp Ma Lũy Táp Lũy. Hát Lặc Hát Lặc. Yết Oa Điệp. Man Trát Man Trát. Man Trát Thoa Cáp.
Cát Mã Kiều Mĩ (Karma Chakmé) nói: Công đức trì niệm bản Kinh Đại Giải Thoát này tương đương với công đức niệm tụng toàn văn của Kinh Đại Giải Thoát.
—-0.0.0—-
“ĐẠI PHƯƠNG QUẢNG SÁM HỐI DIỆT TỘI THÀNH PHẬT KINH CHI QUY NHIẾP LƯỢC QUỸ(大方广忏悔灭罪成佛经之归摄略轨经)”
Giảng giải:
Đây là tiêu đề của bài Kinh này. Bài Kinh này là bài Kinh tóm lược ngắn gọn của toàn văn “Kinh Đại Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Thành Phật”
“Đảnh lễ, cúng dường, quy y xuất hữu hoại, Như Lai, Đại A La Hán, chánh đẳng giác giả, chư quá khứ Phật, vị lai Phật cập hiện tại trụ thế giả chư Thánh tôn, tinh chư Bồ-đề tát-đỏa. Chư Thanh Duyên giả chúng”
Giảng giải:
Câu này có nghĩa là con đảnh lễ, cúng dường, quy y các Bậc Thánh xuất thế gian mà đại diện là các Như Lai (Phật), Bồ-tát, A La Hán trong quá khứ, hiện tại và vị lai.
“Chư Thanh Duyên giả chúng”
Giảng giải:
Các chúng Thanh Văn, Duyên Giác.
Tóm lại là mười phương và ba đời các Bậc Thánh xuất thế con xin đảnh lễ, cúng dường và quy y.
“Đảnh lễ chư Tháp cập chư xá-lợi, chư nhục thân xá-lợi.”
Giảng giải:
Con cũng xin đảnh lễ, cúng dường, quy y tất cả chư Bảo Tháp chứa toái thân hay toàn thân, nhục thân xá-lợi của Như Lai, Bồ-tát, Thanh Văn, Duyên Giác ở mười phương và ba đời.
“Kỳ thỉnh gia trì.”
Con xin cầu nguyện chư vị gia trì cho con. Ở đây là cầu nguyện sự gia trì của Phật và Tăng.
“Đảnh lễ, cúng dường, quy y đại tổng trì cập thập nhị bộ Kinh.”
Giảng giải:
Con xin đảnh lễ, cúng dường quy y đại tổng trì cùng với mười hai bộ Kinh. “Đại tổng trì” là đà-ra-ni thuộc về Mật tạng, mật bộ. “Mười hai bộ Kinh” thuộc về Kinh tạng, Kinh bộ, Hiển bộ. Như vậy ở đây dù là mật hay hiển con cũng xin đảnh lễ, cúng dường, quy y.
“Đảnh lễ Khế Kinh bộ, đảnh lễ Thọ ký bộ, đảnh lễ Phúng tụng bộ, đảnh lễ Ứng tụng bộ, đảnh lễ Tự thuyết bộ, đảnh lễ Duyên khởi bộ, đảnh lễ Thí dụ bộ, đảnh lễ Bổn sự bộ, đảnh lễ Bổn sanh bộ, đảnh lễ Phương quảng bộ, đảnh lễ Hi pháp bộ, đảnh lễ Luận nghị bộ, đảnh lễ chư Đại thừa tàng.”
Đây là đảnh lễ mười hai bộ Kinh, đảnh lễ tạng Kinh Đại thừa.
1. Khế kinh (Trường hàng): Phật dạy được ghi lại bằng thể văn xuôi.
2. Trùng tụng (Ứng tụng): Phật nói kệ tụng dùng để tóm tắt ý nghĩa của Khế kinh.
3. Ký biệt (Thọ ký): Phật thọ ký cho chúng đệ tử sẽ chứng quả vào đời vị lai.
4. Phúng tụng (Cô khởi): Phật dạy bài kinh dùng toàn kệ tụng (không phải thể loại Trùng tụng).
5. Tự thuyết: Phật tự mở lời khai thị mà không có người thỉnh cầu chỉ dạy.
6. Nhân duyên: Phật nêu lên cái nhân duyên đưa đến trường hợp thuyết giáo – thường là phẩm “Tựa” ở đầu mỗi bộ kinh.
7. Thí dụ: Phật dùng thí dụ trong lúc giảng thuyết để giúp thính chúng hiểu ý kinh dễ dàng hơn.
8. Bản sinh: Phật thuật lại các kiếp tu hành đời trước của Ngài.
9. Bản sự: Phật thuật lại những công hạnh của các vị Thánh đệ tử trong các kiếp trước.
10. Phương quảng: Phật nói các kinh có văn từ phong phú, giáo nghĩa sâu xa rộng lớn.
11. Hy pháp (Vị tằng hữu): Phật nói những sự việc ít có của Ngài và chư Thánh đệ tử.
12. Luận nghị: Phật luận giảng nghĩa lý rành mạch, rõ ràng nhằm giúp thính chúng hiểu rõ về thể tánh của vạn pháp. (2)
“Kỳ thỉnh gia trì.”
Giảng giải:
Con xin cầu nguyện, thỉnh nguyện sự gia trì của Pháp.
Hai đoạn trên hợp lại có nghĩa là con xin đảnh lễ, cúng dường, quy y và cầu xin sự gia trì của Phật, Pháp, Tăng.
“Na Ma Bố Đạt Nha, Na Ma Đạt Nhi Mã Nha, Na Mê Tùng Cát Nha, A Đan Đức Đáp Nhật A Ni. Đại Đích Nha Tha. A Ca Hạ Ni Ba Bác Ni. Tát Nhi Ngõa Đạt Nhật Mã Ni Oa Ni. Ngã Hạ Ma Ân Đáp. Bác Ba Hạ Na. Bác Mã Lạp Sắc Ba Nhật. Đạt Nhi Mã Ni Ca Na. Ba Nhật A Nhật Ni Táp Nha Đáp Ma Lũy Táp Lũy. Hát Lặc Hát Lặc. Yết Oa Điệp. Man Trát Man Trát. Man Trát Thoa Cáp.”
Đây là bài Minh Chú của Kinh này.
Bản Phạn âm – Latin đối chiếu:
Namo Buddhaya, namo dharmaya, namo sangghaya, a dan tidha ra ni, tadyatha, a ka sha ni, ba bi ni sarva, dharma ni va ni, i sha ma da pi pa sha na, vimala suparri dharma ni, kha na va ra ru ni ca, ya tamale, cale, huru huru, shivite, mantra mantra, mantrah svaha.
(4) [Mời xem phần tham khảo ở link số 4 bên dưới để nghe].
Cách đọc:
Na mô Bút-đa-da, na mô đạc-ma-da, na mô săng-ga-da, a đan ti đa ra ni, tát da tha, a ka sa ni, ba bi ni sạc-va, đạc-ma ni va ni, i sa ma đa bi ba sa na, vi-ma-la su-pạc-ri đạc-ma ni, kha na va ra ru ni cha, da ta-ma-lê, cha-lê, hu-ru hu-ru, si-vi-tê, man-tra man-tra, man-trắc, soa-ha.
(Lam trang phiên âm lại dựa trên bản Phạn – Latin)
Đây là bài Minh Chú do Bồ Tát Sư Tử Hống thuyết trong Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật.
Chúng ta xem bản dịch âm của Cố H.T Đại Ninh:
“Na mô Buýt đà, na mô Đạt ma, na mô Săng già. A đàn địa, đà ra ni, dà đà ha. A già sà ni bà, tỳ tát bà đạt ma. Ni bà tỳ y xá na, đa tỳ bà xá na. Tỳ ma la, tu bát ly đạt ma ni, dà na bà lâu ni. Xoa dạ đa, ma lệ, giá lệ. Hu lu, hu lu, sư bệ đế. Mạn đá la, mạn đá la. Sóa ha.” (5)
Ngoài ra còn một bản dịch âm khác của H.T Thích Trung Quán, chỗ sai khác không nhiều, chỉ là trại đi một chút, ý nghĩa là tương đồng.
Bạn có thể tùy ý chọn một bản Chú để tùy tâm hành trì.
“Cát Mã Kiều Mĩ (Karma Chakmé) nói: Công đức trì niệm bản Kinh Đại Giải Thoát này tương đương với công đức niệm tụng toàn văn của Kinh Đại Giải Thoát.”
Karma Chakmé (1613-78) là một Đại Thành Tựu giả cao cấp của Tây Tạng vào thế kỉ 17. Ông là một vị thầy quan trọng của Karma Kamtsang, ông được nhiều người công nhận là hóa thân của Karmapa thứ chín (nhưng không được chọn.) Những người thầy của ông bao gồm những Đạo sư nổi tiếng nhất trong thời đại của ông, cả Nyingma và Kagyü. Ông vừa là thầy vừa là học trò của Tertön Mingyur Dorjé. (6)
Karma Chakmé nói cho chúng ta biết rằng việc tụng bản Kinh ngắn gọn này có công đức tương đương với việc tụng toàn văn Kinh Đại Phương Quảng
Để có lợi ích và nhận được sự gia trì, hãy nghe bản khẩu truyền của Mạc Trát Pháp Vương dưới đây:
Sau khi nghe bản khẩu truyền rồi thì bạn có thể niệm bản Kinh ngắn ngọn của Đại Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật.
Ở đây Lam giữ nguyên phần âm Hán – Việt để đọc trang trọng, kết hợp với bài Minh Chú bằng Phạn âm.
“Đảnh lễ, cúng dường, quy y xuất hữu hoại, Như Lai, Đại A La Hán, chánh đẳng giác giả, chư quá khứ Phật, vị lai Phật cập hiện tại trụ thế giả chư Thánh tôn, tinh chư Bồ-đề tát-đỏa. Chư Thanh Duyên giả chúng. Đảnh lễ chư Tháp cập chư xá-lợi, chư nhục thân xá-lợi. Kỳ thỉnh gia trì.
Đảnh lễ, cúng dường, quy y đại tổng trì cập thập nhị bộ Kinh. Đảnh lễ Khế Kinh bộ, đảnh lễ Thọ ký bộ, đảnh lễ Phúng tụng bộ, đảnh lễ Ứng tụng bộ, đảnh lễ Tự thuyết bộ, đảnh lễ Duyên khởi bộ, đảnh lễ Thí dụ bộ, đảnh lễ Bổn sự bộ, đảnh lễ Bổn sanh bộ, đảnh lễ Phương quảng bộ, đảnh lễ Hi pháp bộ, đảnh lễ Luận nghị bộ, đảnh lễ chư Đại thừa tàng. Kỳ thỉnh gia trì.
Na mô Bút-đa-da, na mô đạc-ma-da, na mô săng-ga-da, a đan ti đa ra ni, tát da tha, a ka sa ni, ba bi ni sạc-va, đạc-ma ni va ni, i sa ma đa bi ba sa na, vi-ma-la su-pạc-ri đạc-ma ni, kha na va ra ru ni cha, da ta-ma-lê, cha-lê, hu-ru hu-ru, si-vi-tê, man-tra man-tra, man-trắc, soa-ha.”
Cầu mong cho Pháp sám hối này được tồn tại mãi mãi cho đến khi luân hồi trống rỗng. Với sức mạnh của thiện hạnh mà con đã tạo, nguyện cho Pháp sám hối này được lưu truyền càng xa càng tốt, càng nhiều người được biết đến càng tốt, càng nhiều người hành trì càng tốt.
Nguyện với Pháp sám hối này, tất cả mọi chướng của những ai thấy, nghe đều được tịnh hóa, đạt được giác ngộ càng nhanh càng tốt, ngay trong một đời.
Lam sơn trang dịch và biên soạn,
Đà Lạt, ngày 07/10/2020
Mọi sai sót trong quá trình biên tập và dịch thuật là của Lam trang, mọi công đức có được xin hồi hướng đến cho tất cả những ai thấy, nghe Pháp sám hối này đều được tịnh hóa hoàn toàn nghiệp chướng.
Cũng thông qua bài viết này, cảm ơn các anh, các em đã gởi các bản Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật với các dịch giải khác nhau cho Lam. Tri ân và hồi hướng công đức của bài biên soạn này cho quý vị.
Nguồn tham khảo:
—-
Cập nhật ngày 19/10/2020:
NAMO BUDDHĀYA / NAMO DHARMĀYA / NAMAḤ SAṄGHĀYA /
ADANTI DHĀRAṆĪ / TADYATHĀ / AKAŚHANI VĀVĪNI / SARVA
DHARMĀ NI VANĪ / IŚHAMANA / VIPAŚHANA / VIMALA SUPARI /
DHARMA NI KHANA / VARUNI CHAYA TAMALE / CHALE / HULU
HULU / ŚHIVITE / MANTRA MANTRA MANTRAḤ SVĀHĀ
Đây là phiên bản bài Minh Chú này từ Lama Zopa Rinpoche.
—-
Đọc:
NAM MÔ BÚT-ĐÀ-DA / NAM MÔ ĐẠC-MA-DA, NA-MẮC SĂNG-GA-DA, A-ĐĂN-TI ĐA-RA-NI / TÁT-DA-THA / A-KA-SA-NI VA-VI-NI / SẠC-VA ĐẠC-MA NI VA-NI / I-SA-MA-NA / VI-PA-SA-NA / VI-MA-LA SU-BA-RI / ĐẠC-MA NI KHA-NA / VA-RU-NI CHA-DA TA-MA-LÊ / CHA-LÊ / HU-LU HU-LU / SI-VI-TÊ / MAN-TRA MAN-TRA MAN-TRẮC SOA HA.
 

Leave a Reply